Giúp doanh nghiệp vượt qua “cú sốc”, nhiều chính sách hay nhưng bất cập trong triển khai

Rate this post

Sau khi điểm lại bức tranh toàn cảnh về doanh nghiệp Việt Nam gia nhập thị trường 8 tháng đầu năm tại Hội nghị chuyên đề 2: “Đẩy mạnh thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam 2022 diễn ra ngày 18/9, bà Hà Thu Thanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Tư vấn & Kiểm toán Deloitte Việt Nam lạc quan cho rằng niềm tin của các doanh nghiệp vào sự điều hành chính sách kinh tế – tài chính, ổn định chính trị, kiểm soát lạm phát của Chính phủ là một động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp mới tham gia thị trường.

Cụ thể, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là hơn 100 nghìn doanh nghiệp, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp gia nhập lại thị trường là hơn 48 nghìn doanh nghiệp, tăng trưởng với tốc độ 48 nghìn doanh nghiệp. % (Hình 2), số doanh nghiệp đang hoạt động đăng ký tăng vốn với mức tăng 63%. Tuy nhiên, bên cạnh đó, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng khá cao, hơn 50.000 doanh nghiệp, tăng 38% so với cùng kỳ năm trước.

ẢNH HƯỞNG TỪ NHIỀU “SỐC” ĐẾN TOÀN DIỆN

Lý giải về số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh trong 8 tháng năm 2022 tăng cao, bà Hà Thu Thanh cho rằng có thể một phần do hậu quả của đợt dịch Covid-19 kéo dài, các doanh nghiệp không còn khả năng duy trì hoạt động kinh doanh. duy trì khả năng cạnh tranh hoặc cũng có thể do sự yếu kém trong quản trị nội bộ của doanh nghiệp.

Nhìn lại bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay, theo bà Hà Thu Thanh, các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) đều rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế sâu sắc và tồi tệ nhất. trong nhiều thập kỷ qua. Thương mại toàn cầu suy giảm, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, hoạt động sản xuất và lưu thông bị đình trệ…

“Hàng loạt cú sốc từ chiến tranh đến chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của nhiều nước đang tiếp tục tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới suy yếu do đại dịch”, bà Thanh nhấn mạnh. .

Bên cạnh những chấn động về dịch bệnh, chiến tranh, những năm gần đây, biến đổi khí hậu bất thường đang là thách thức lớn và đầy bất trắc.

Không nằm ngoài tác động chung của đại dịch, Chủ tịch Deloitte Việt Nam chỉ ra một số khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải sau đại dịch.

Đầu tiên, doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính.

“Sau 2 năm ứng phó với đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp phải tạm đóng cửa hoặc giải thể hầu hết là do khó khăn về tài chính, đặc biệt là khó khăn về dòng tiền để duy trì hoạt động thường xuyên”. , Bà Thanh nêu quan điểm.

Thứ hai, doanh nghiệp khó khăn về lao động cả về số lượng và chất lượng.

Theo bà Thanh, các doanh nghiệp bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả đại dịch gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, do thiếu hụt cả về số lượng và kỹ năng của người lao động.

“Sự thiếu hụt kỹ năng cũng là một trở ngại lớn đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu”.

Cùng với đó là sự cạnh tranh về lao động có tay nghề cao, lao động chất lượng cao đồng hành với quá trình chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam ngày càng gay gắt.

Thứ ba, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn và không ưu tiên cho các hoạt động đổi mới nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh.

Theo bà Thanh, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên cách tiếp cận vốn duy nhất là vay vốn thông qua các ngân hàng thương mại. Vốn vay thấp nên hạn chế mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh.

Doanh nghiệp chưa ưu tiên cho các hoạt động đổi mới cải tiến và nâng cao năng lực.

Thứ TưBên cạnh những khó khăn trên, doanh nghiệp khó tiếp cận các thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tiếp cận thông tin thị trường như giá cả, chủng loại sản phẩm, thị trường ưa chuộng, rào cản kỹ thuật của thị trường mà hàng Việt Nam nhập khẩu, thiếu thông tin về công nghệ, thiết bị hiện đại và giá cả liên quan.

Đặc biệt, hiện nay, trong bối cảnh các nước tham gia COP26 có cùng cam kết giảm phát thải carbon ròng xuống 0 vào năm 2050, các thị trường chính là Châu Âu và Hoa Kỳ, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, được đề xuất áp dụng cơ chế mới “Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (viết tắt là CBAM).

Đặc biệt, với các rào cản kỹ thuật và quy định liên quan đến giảm phát thải, doanh nghiệp từ các nước xuất khẩu vào các thị trường này phải tuân theo và có thể đánh thuế carbon trong trường hợp nước xuất khẩu không đáp ứng yêu cầu. các quy định. Điều này cần hỗ trợ tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp.

Giúp doanh nghiệp vượt qua

“Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của doanh nghiệp trước những cú sốc, thách thức bất ổn là vấn đề then chốt trong giai đoạn phục hồi kinh tế.

Trong điều kiện mới – hồi phục sau Covid, chắc chắn bên cạnh lợi nhuận, ESG và các yếu tố phát triển bền vững cần được đưa vào chiến lược và được đo lường thông qua kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm ”, Chủ tịch Deloitte Việt Nam nhấn mạnh.

Chia sẻ những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp, PGS.TS. TS Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng cho rằng, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, sức khỏe. Lượng mua của khách hàng giảm do cả khách hàng cá nhân và tổ chức thắt chặt chi tiêu.

Với tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, đại dịch Covid-19 được coi là “cú sốc” thử sức chống chịu của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp riêng lẻ. riêng.

Trong bối cảnh đó, các cơ chế, chính sách hỗ trợ nhóm doanh nghiệp khôi phục sản xuất kinh doanh sau đại dịch đã được Đảng, Nhà nước triển khai liên tục và kịp thời trong thời gian qua.

Tính đến tháng 8 năm 2022, Chính phủ, các bộ, ngành đã tích cực nỗ lực xây dựng và ban hành 15/17 văn bản cụ thể hóa các chủ trương tại Nghị quyết số 11 / NQ-CP về chương trình phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội và triển khai thực hiện Nghị quyết số 43. / 2022 / QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ chương trình.

Các chính sách này có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy xu hướng phục hồi tính tích cực của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, đảm bảo cung ứng cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

DOANH NGHIỆP, HỘ KINH DOANH GỌI NGAY ĐỂ TRUY CẬP

Tuy nhiên, GS.TS Nguyễn Trực Lê cho rằng không phải chính sách nào cũng hiệu quả và tác động nhanh đến doanh nghiệp.

Nhiều chính sách tốt nhưng điều kiện quá bất cập, doanh nghiệp khó thụ hưởng; thủ tục hành chính rườm rà, nhiều giấy phép con liên quan đến hoạt động kinh doanh.

Chỉ ra những bất cập trong quá trình thực hiện chương trình khắc phục hậu quả, ông Lê phân tích một là, chính sách tốt nhưng điều kiện quá bất cập, doanh nghiệp khó được hưởng lợi, chưa điều chỉnh kịp thời những bất cập.

Chẳng hạn, “tiếp cận nguồn vốn giá rẻ với chính sách hỗ trợ lãi suất 2% khá khó khăn do DN khó đáp ứng điều kiện cho vay, có DN không được giải ngân vì không có tài sản thế chấp, trong khi ngân hàng kiên quyết không hạ tiêu chuẩn cho vay ”, Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế nêu rõ bất cập.

Hoặc có hộ kinh doanh dịch vụ thu nhập thấp nhưng không được tiếp cận chính sách hỗ trợ lãi suất 2%, do tỉnh đó chưa quy định thu nhập bao nhiêu là thấp.

Hoặc có HTX thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất 2% nhưng không có hóa đơn đỏ theo yêu cầu của Bộ Tài chính mà chỉ có hóa đơn bán lẻ, hợp đồng mua bán.

Ngoài những vướng mắc nêu trên, một nguyên nhân khác khiến người vay ngại tiếp cận gói hỗ trợ lãi suất 2% là việc tham gia chương trình hỗ trợ lãi suất sẽ phải làm việc với đoàn thanh tra, kiểm toán, kiểm toán. kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền.

Hai là, thủ tục hành chính còn rất rườm rà, phức tạp, làm giảm hiệu lực của chính sách, nhất là khi có quá nhiều giấy phép con liên quan đến hoạt động kinh doanh.

Điều kiện để được hưởng chính sách chưa rõ ràng, mục tiêu chưa cụ thể, nhất là nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ.

Ví dụ, để nhận được một số tiền nhỏ để hỗ trợ Covid-19, người lao động phải hoàn thành quá nhiều tài liệu phức tạp, dẫn đến việc họ không có động lực để làm việc này.

Bên cạnh đó, các hộ kinh doanh dù thực sự khó khăn và muốn giảm lãi suất cũng khó tiếp cận với chính sách hỗ trợ lãi suất 2% do điều kiện phải có giấy phép đăng ký kinh doanh.

Ba là, Phần lớn các chính sách được thiết kế và thực hiện theo hướng bình quân giữa các địa phương, ngành và quy mô, ít xem xét mức độ ảnh hưởng và khả năng chống chịu giữa các ngành và doanh nghiệp.

Theo ông Lê, để đẩy nhanh tiến độ triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2%, đối tượng được hưởng chính sách này cần được mở rộng.

Cụ thể, chính sách cần hỗ trợ lãi suất bằng ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Thực tế, có những doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản thuộc nhóm ngành được hỗ trợ lãi suất, nhưng họ chỉ vay ngoại tệ.

Bốn là, Liều lượng chính sách còn khiêm tốn, cùng với số lượng đối tượng được hỗ trợ quá nhiều nên lợi ích từ chính sách còn dàn trải.

Ngoài ra, các chính sách có những mâu thuẫn, hạn chế khi công bố gói hỗ trợ lãi suất nhưng hạn mức tín dụng; Đối tượng thụ hưởng chưa được tập trung đúng đối tượng cần hỗ trợ khi tiêu chí xét duyệt gói hỗ trợ chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp lớn, “khỏe”, có tài chính tốt.

Thời gian giãn, hoãn nộp thuế, phí, tiền thuê đất cho doanh nghiệp rất ngắn nên việc hỗ trợ cho doanh nghiệp rất ít, dù được gia hạn thêm một tháng từ 5 tháng lên 6 tháng.

Leave a Reply

Your email address will not be published.