Tín dụng bất động sản tăng gần 15%, Ngân hàng Nhà nước lý giải nguyên nhân doanh nghiệp khó tiếp cận vốn

Rate this post

Tín dụng bất động sản tăng gần 15%, Ngân hàng Nhà nước lý giải nguyên nhân doanh nghiệp khó tiếp cận vốn

Trong báo cáo trước Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước thừa nhận thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, mặc dù đã nhận được các chính sách hỗ trợ của ngân hàng.



Chính sách tiền tệ đang chịu nhiều áp lực.

Doanh nghiệp khó vay vốn, tín dụng bất động sản vẫn tăng mạnh

Theo Ngân hàng Nhà nước, có một số nguyên nhân khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay.

Thứ nhất, doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt dịch Covid-19 kéo dài khiến kết quả kinh doanh sa sút, số lượng lớn doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, tiềm ẩn nợ xấu hệ thống.

Thứ hai, một kế hoạch phục hồi sản xuất kinh doanh mới của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố của thị trường và chính sách phát triển thị trường của các ngành khác nhau, nhưng nó không bền vững.

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng càng khó hơn do nguyên nhân nội tại của doanh nghiệp vừa và nhỏ (tài sản thế chấp giá trị thấp, hoạt động không minh bạch). hoạt động kinh doanh hạn chế, trình độ quản lý yếu kém, v.v.); Cơ chế hỗ trợ tiếp cận vốn thông qua bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thời gian qua chưa được như mong muốn.

Ngân hàng Chính quyền khẳng định, thời gian qua đã điều hành các giải pháp tín dụng phù hợp, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, hướng tín dụng vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng. đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng.

Bên cạnh các giải pháp quản lý tín dụng, nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng của người dân và doanh nghiệp, thời gian qua, Ngân hàng Chính quyền đã tích cực triển khai nhiều giải pháp.

Cụ thể, Ngân hàng Chính quyền thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tín dụng mở rộng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giảm lãi suất, đơn giản hóa thủ tục cho vay nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng qua các kênh chính thức; Tiếp tục triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp; Phát triển mạng lưới các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, tổ chức tài chính vi mô phủ khắp các vùng miền nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn chính đáng của người dân …

Với hệ thống hướng dẫn và giải pháp đồng bộ của Ngân hàng Chính quyềnĐến ngày 7/9/2022, tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 11,48 triệu tỷ đồng, tăng 9,93% so với cuối năm 2021 và tăng 16,76% so với cùng kỳ năm 2021 do nhu cầu tín dụng. tăng so với đầu năm, phù hợp với diễn biến tích cực hơn của nền kinh tế.

Trong đó, cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vốn cho khu vực sản xuất – kinh doanh, phù hợp với mức độ đóng góp và tăng trưởng của các thành phần kinh tế trong GDP; Tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên tăng trưởng khá, cao hơn cùng kỳ năm trước, một số lĩnh vực có tốc độ tăng cao hơn mức tăng tín dụng chung; Tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát chặt chẽ.

Theo số liệu của Ngân hàng Chính quyền, tính đến tháng 7/2022, tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,31% so với cuối năm 2021; tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 7,42%; khu vực thương mại và dịch vụ tăng 10,73%.

Đồng thời, tín dụng vào lĩnh vực bất động sản tăng 14,69% so với cuối năm 2021, chiếm 20,81% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống.

Trong đó, tín dụng vào kinh doanh bất động sản tăng 6,6%; bất động sản tự sử dụng tăng 19,03%. Đáng chú ý, tín dụng đầu tư và kinh doanh chứng khoán giảm 28,71%, chiếm tỷ trọng 0,35%. Tín dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt (tín dụng tiêu dùng) tăng 14,99%, chiếm tỷ trọng 20,9%.

Điều hành chính sách tiền tệ chịu nhiều áp lực

Theo Ngân hàng Chính quyềnhiện điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng đang chịu nhiều áp lực.

Lạm phát có xu hướng gia tăng, lạm phát so với cùng kỳ cuối năm 2022 dự kiến ​​vượt 4%, đặt ra thách thức đối với nhiệm vụ kiềm chế lạm phát từ đầu năm 2023.

Điều hành giảm lãi suất của Ngân hàng Chính quyền Thời gian tới còn nhiều khó khăn do: Lạm phát trong và ngoài nước có xu hướng gia tăng; các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới tiếp tục đẩy mạnh quá trình thu hẹp, nới lỏng chính sách tiền tệ, điều chỉnh lãi suất nhanh và mạnh; nhu cầu tín dụng tăng lên; tỷ giá hối đoái chịu nhiều áp lực; IMF khuyến nghị việc thực hiện hỗ trợ phục hồi kinh tế Việt Nam thời gian tới chủ yếu dựa vào chính sách tài khóa, còn chính sách tiền tệ cần thận trọng …

Áp lực về vốn tín dụng ngân hàng gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế cần vốn để phục hồi nhưng các nguồn vốn khác lại không thuận lợi.

Cụ thể, thị trường vốn (thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán) còn một số tồn tại và phát triển chưa tương xứng với vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế; So với cùng kỳ năm 2021, lượng đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài và lượng kiều hối có xu hướng giảm.

Tỷ lệ tín dụng / GDP của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt từ năm 2020, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hệ thống tài chính. Các tổ chức quốc tế (IMF, WB), các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia đều cảnh báo về tỷ lệ này của Việt Nam.

Trước áp lực chính sách tiền tệ, Ngân hàng Chính quyền đặt mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ thời gian tới tiếp tục chủ động, linh hoạt, đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thích ứng kịp thời với thị trường trong và ngoài nước.

Đồng thời, điều hành tín dụng an toàn, hiệu quả, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và lạm phát. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tín dụng tiêu dùng với lãi suất hợp lý, đảm bảo an toàn vốn vay, hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *